LK WEBSITE GIÁO DỤC

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 11


Hôm nayHôm nay : 18

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 991

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 47258

Cô Nguyệt – Niềm tin của con em dân tộc Lào, đảm việc nhà

Thứ tư - 13/05/2015 08:07 | Số lần đọc: 282
Cô Nguyệt – Niềm tin của con em dân tộc Lào, đảm việc nhà

Cô Nguyệt – Niềm tin của con em dân tộc Lào, đảm việc nhà

Tốt nghiệp cấp 3, cô gái trẻ Hoàng Thị Nguyệt tham gia dạy học mầm non cái thời “dạy cho vui tại làng vì yêu thích trẻ con”, một thời gian được tham gia và hoàn thành lớp sư phạm cử tuyển để bổ sung giáo viên dạy vùng cao; năm 1996 chị chính thức dạy học tại bản Phú Lâm, thuộc xã Phú Gia, Hương Khê.
Phú Lâm là vùng núi cao tách biệt, cách điểm trường trung tâm xã Phú Gia gần 20 cây số, nằm ở dãy núi Giăng Màn, hạ nguồn của thác Vũ Môn (nơi truyền thuyết cá chép hóa rồng). Phú Lâm là điểm lẻ của trường tiểu học Phú Gia. Phú Lâm trước đây có 2 điểm trường là Củ Nu và Cây Trồ cách nhau trên 3 km, từ năm học 2012-2013 nhập lại một điểm tại Cây Trồ (đối diện đồn Biên phòng Phú Gia). Điểm trường Phú Lâm với 2 lớp ghép Lớp (2,3), lớp (4,5) và 1 lớp 1 xấp xỉ 35 học sinh, học sinh ở đây chủ yếu là con em dân tộc Lào và một số dân từ làng trước đây vào phát rừng làm rẫy, làm trại trồng sắn, trồng ngô, săn bắt thú chim, rừng và khai thác lâm sản. Khoảng 5 năm trở lại đường vào bản đã được “Nhựa hóa” với đề án Tuyến phòng thủ biên giới của bộ đội Biên phòng, người dân bản Phú Lâm thực sự được “lên tiên” nhờ chính sách của Đảng, Nhà nước.

        Được phép về thời gian ngồi nghe chị tâm sự đôi chút, cái chuyện “ôn nghèo, kể khổ”. Ngược dòng lịch sử khi niềm hạnh phúc được cử đi học để thực hiện lòng yêu thương trẻ thơ, rồi đến chuyện bắt đầu những ngày cùng đồng nghiệp băng rừng, vượt suối đến lớp mang cái chữ cho bản làng. Chị nói: “thật là ơn Đảng, ngày mới vào đây đường đi qua rồi ngoái lại chẳng thấy đường bởi lẽ chỉ là con đường của dân khai thác rừng, chỉ rẽ lối mà đi theo dấu chân trâu và lướt kéo gỗ; ngoằn nghèo, lên dốc, xuống suối. Ngày nắng thì đỡ, ngày mưa đường thành con mương nước, hết mưa đường bùn nhão nhoét, lầy lội; Sên nhiều vô kể, chậm chân tí là thấy nó ngo ngoe bò lên, loài Vắt ở bờ cây thì vươn thân dài chờ sẵn, chỉ vướng chạm vào là nó bám sang người ngay; mà cái giống nhà nó khác với con đỉa ở ruộng, đỉa cắn xong thì máu có thể tự đông lại, đàng này cái loài này nó đã cắn rồi thì máu rất khó đông, cứ chảy miết rứa. Mỗi lần băng qua rừng vào đến bản, hay từ bản xuôi về đến xã, nghĩ lại sao thấy mình gan, liều và mạnh mẽ đến thế. Mỗi lần ra lại đắn đo không muốn trở lại bản, cha mẹ, anh em chỉ bàn việc bỏ dạy ở nhà làm ruộng để còn giữ được thân. Thế nhưng, rồi… đã gần 20 năm với bản, với con em dân tộc Lào”.
         “Công việc dạy học cũng chẳng dễ chút nào đã là bản, là khu trại giữa rừng, mỗi gia đình một góc rừng có ở tập trung lại mô, đến bản là đi các góc rừng để gom các em về lớp học. Mùa mưa rét thì lạnh buốt, khói đá chập chờn ngang mặt các cháu nỏ muốn đi, mùa hè khô ráo thì theo bố mẹ đi rẫy, đi rừng bẫy chim. Ngày nay thì quá đơn giản, cần gì chỉ “a lô” hoặc xe máy lượn vèo vài tiếng là có ngay, chứ khi trước chưa có đường thì chỉ có “chịu và nhịn” thôi thầy ơi. Chuyện rừng núi, chuyện khó khăn ở Phú Lâm, chuyện bản làng nói mãi cũng không thấy đủ... Mới đó, mà cũng gần 20 năm với bản làng với rừng xanh, với các thế hệ học trò…”. Hai mươi năm, hàng đêm miệt mài bên giáo án lớp ghép…văng vẳng âm thanh bốn mùa của núi rừng về đêm; tiếng rì rào xa xa nước đổ từ ngọn thác Vũ Môn vọng về…
          Nhìn về ngọn núi phía trước thấy nét trầm tư hiện lên trên khuôn mặt, có lẽ ký ức thời “nghe chim kêu, vượn hú”, với củ sắn, củ nu qua bữa, thời gian khổ cực vì con chữ vì bản làng đang về trong tâm trí chị.

          Là một cây “cổ thụ” của lớp ghép Hương Khê, từ khi về dạy tại bản chỉ có năm học này không dạy lớp ghép, cô nhận trọng trách lớp 1 vì cái Tiếng Việt CGD mới đại trà. Với học sinh con dân tộc, với các lớp ghép ít nhất 2 trình độ nhưng học trò của cô Nguyệt luôn được các đoàn kiểm tra đánh giá tốt, đã có những học sinh mang về cho cô cho bản làng danh hiệu học sinh giỏi huyện các năm trước. Thế hệ học sinh của cô nay đã em đậu vào đại học, cao đẳng. Niềm tin của cô là lòng yêu thương trẻ, là lòng nhiệt huyết cùng đồng bào vượt qua khó khăn, cách trở; niềm tin từ ánh mắt trẻ thơ, là sự kính trọng của bà con dân bản. Với các thế hệ Hiệu trưởng chị luôn nhận được sự cảm phục và cảm thông, thân thiện, chia sẻ từ đồng nghiệp.

          Không chỉ là một giáo viên vượt khó, gắn bó với bản làng, với học sinh dân tộc, với lớp ghép cô Nguyệt còn là một người vợ, một người mẹ chăm lo gia đình, một người nông dân có kiến thức sản xuất, chăn nuôi giỏi. Với chính sách giao đất, giao rừng, ngoài khu nhà vườn gần điểm trường, gia đình chị có trang trại khoảng 20 ha gồm có rừng trồng, vườn cam, khu vực chăn nuôi lợn thả mấy chục con, mấy chục con trâu bò, nuôi gà thả vườn, ao cá. Vườn cam năm đầu tiên cho bói vừa qua cũng thu về cho gia đình trên 50 triệu đồng. Chồng chị, là người con của bản, người đã “bắt” chị ở lại với rừng Trường Sơn cùng bà con bản làng Phú Lâm để chị đỡ phải hàng tuần trèo đèo, vượt suối, tránh con sên, con vắt khi về nhà và trở lại trường dạy học. Đặc biệt là để chị thực hiện ước mơ dạy học vì yêu thương lũ trẻ; để chị không bỏ các cháu ở bản mà về đàng ngoài. Anh là động lực giúp chị đảm đang mọi việc. Khi gặp, cả hai vợ chồng chỉ “đổ lỗi” cho nhau. Anh nói: “Ngoài việc trường, việc dạy học, vận động bà con giúp đỡ, tạo điều kiện cho các em học tập, chị còn tranh thủ mọi thời gian chăm sóc các con; ngày nghỉ vào trại chăm sóc vườn rừng, chăn nuôi lợn, gà và đàn trâu bò…cái gia đình có hôm nay là công của chị”. Chị lại bẻ lý: “Nhờ anh đó, Anh đã chăm lo mọi việc cho chị, từ chăm sóc con cái, vườn tược, trang trại và đàn vật nuôi, còn chị chỉ ngày 2 buổi đến với trường, lớp”. Thật là sự đỗ lỗi mà nhiều gia đình ước muốn; lỗi vì lòng yêu thương, niềm tin tưởng, đồng lòng- đồng sức, lỗi vì hạnh phúc và sự phát triển của gia đình; vì tôn trọng, hiểu biết và giúp đỡ để làm tốt công việc của nhau. Cái lỗi bắt nguồn từ tình yêu thương và hiểu nhau, cùng giúp đỡ nhau trong công việc, vì con em bản Phú Lâm, vì gia đình hạnh phúc, con cái học giỏi, kinh tế gia đình ngày ổn định, giàu có hơn.
         Tuy là một giáo viên cắm bản, ở xa điểm trung tâm, ít được các danh hiệu. Danh hiệu lớn nhất của chị và gia đình là bao đời hiệu trưởng đều dành cho chị những lời khen, nhận xét thật trân trọng và lòng mến phục. Với tập thể giáo viên chị là người gẫn gũi, thân thiện và được mọi người yêu thương. Niềm tin và niềm vui lớn nhất của chị là các thế hệ học sinh dân tộc Lào ngày càng trưởng thành, sự kính trọng của các bậc phụ huynh nơi bản Phú Lâm.
         Chúc cho chị luôn khỏe để mãi mãi Giỏi việc trường - Đảm việc nhà, nhận sự kính trọng của học sinh và niềm tin trong lòng bà con dân bản.
 

 

Tác giả bài viết: Lê Hữu Tân - Phòng GD&ĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn